Hệ quan điểm ưu tiên phát triển bền vững vững.

     Ưu tiên phát triển bền vững vùng kinh tế bằng quản lý, bảo tồn, khai thác và sử dụng một cách hiệu quả và bền vững các nguồn lực khan hiếm, đó là đất, nước, không khí, rừng, cảnh quan, đa dạng sinh học, các loại khoáng sản trong lòng đất và trên mặt đất.

Hệ quan điểm ưu tiên phát triển bền vững vững.

     Ưu tiên phát triển bền vững bằng lợi thế so sánh địa phương, vùng và quốc gia; ưu tiên phát triển căn cứ trên lợi thế so sánh sẽ làm tăng hiệu suất sử dụng các nguồn, thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế nội vùng và giữa các vùng, thúc đẩy sự phát triển hướng đến bền vững.

     Ưu tiên phát triển bền vững hội nhập quốc tế, khai thác ngoại lực, bổ sung cho nội lực; Việt Nam thực hiện chiến lược phát triển bền vững vùng kinh tế trong bối cảnh quốc tế hóa, toàn cầu hóa, vì vậy phát triển bềnvững bằng phương thức hội nhập quốc tế sẽ giúp Việt Nam khắc phục được tình trạng khan hiếm nhiều loại nguồn lực, tạo thêm đà rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển nhanh sang giai đoạn hậu công nghiệp, hướng đến phát triển bền vững.

     Ưu tiên phát triển bền vững bằng tăng trưởng kinh tế, cho dù tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với phát triển bền vững, nhưng nếu không có tăng trưởng kinh tế thì Việt Nam sẽ không thể thực hiện được các mục tiêu phát triển bền vững. Tăng trưởng kinh tế là phương tiện cơ bản nhất giúp các vùng kinh tế Việt Nam phát triển được theo hướng bên vững.

     Ưu tiên phát triển bền vững bằng đảm bảo công bằng xã hội: nếu như tăng trưởng kinh tế là phương tiện cơ bản để thực hiện phát triển bềnvững thì công bằng xã hội lại có một chức năng kép: nó vừa là phương tiện về mặt xã hội của phát triển bềnvững, lại vừa là mục tiêu của phát triển bềnvững vùng kinh tế. Vì vậy, đảm bảo công bằng xã hội phải là một trong số ưu tiên hàng đầu trong phát triển bền vững vùng kinh tế.

     Ưu tiên phát triển bềnvững vì con người, lấy con người làm trung tâm trên cơ sở sự tham gia rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân, và người dân phải được hưởng lợi từ các thành quả phát triển. Đối với các quốc gia đang phát triển, thực tế thiếu hụt các nguồn lực, tài sản và các điều kiện vật chất tối thiểu đã gây nên tình trạng đồng nhất giữa phương tiện và mục tiêu; làm cho người ta vật chất hóa cả những mục tiêu xã hội và con người. Vì vậy ưu tiên phát triển bền vững vì con người có nghĩa là bằng bất cứ giá nào cũng không biến con người thành phương tiện cho các mục tiêu phát triển.

     Ưu tiên phát triển bền vững bằng phát triển nguồn nhân lực phải là một chiến lược lâu dài và nhất quán của các địa phương, các vùng kinh tế Việt Nam. Việt Nam dồi dào sốlượng nguồn nhân lực, nhưng lại thiếu hụt nghiêm trọng chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực là phát triển về chất lượng nguồn này, chỉ có như vậy thì các vùng kinh tế Việt Nam mới có thể phát triển bền vững.

     Ưu tiên phát triển bền vững bằng phát triển khoa học, công nghệ, tăng cường sản xuất các nguồn thay thế và các sản phẩm thay thế. Việt Nam là một nướcđi sau trong quá trình phát triển, nhưng lại là nước có trình độ dân trí cao, có truyền thống giáo dục lâu đời; vì vậy việc phát triển khoa học, công nghệ sẽ là một lợi thế đốivới các vùng kinh tế của chúng ta.

     Ưu tiên phát triển bềnvững vùng kinh tế bằng định hướng phát triển xã hội hậu công nghiệp, lấy dịch vụ làm phương thức phát triển chủ yếu, nhằm đảm bảo phát triển hài hòa các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường, con người, văn hóa, thể chế, thích hợp với đặc trưng của con người và xã hội Việt Nam, mà không quá phụ thuộc vào công nghiệp hóa.

     Ưu tiên phát triển bền vững vùng kinh tế bằng cách biến vùng kinh tế trở thành đồng nhất với một vùng văn hóa kết hợp được các yếu tốvăn hóa truyền thống với các yếu tốvăn hóa hiện đại. Chỉ có như vậy thì phát triển mới không thiên về quá trình vật chất hóa, mà đảm bảo được sự phát triển cân bằng và hài hòa giữa các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần; và chỉ có như vậy thì mới có phát triển bền vững


Định hướng phát triển lĩnh vực tài nguyên môi trường

Lĩnh vực tài nguyên môi trường

i) Chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất;

ii) Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước;

iii) Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản;

Định hướng phát triển lĩnh vực tài nguyên môi trường

iv) Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển;

v) Bảo vệ và phát triển rừng;

vi) Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp;

vii) Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại;

viii) Bảo tồn đa dạng sinh học;

ix) Giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu góp phần phòng, chông thiên tai.

     Đảng và Nhà nước ta xác định: Chiến lược phát triển vùng một mặt phải ưu tiên phát triển trước các vùng kinh tế trọng điểm, có khả năng bứt phá lên trước, nhưng mặt khác phải chú ý tối việc hỗ trợ các vùng kém phát triển và có điều kiện khó khăn hơn, nhằm tạo ra một sự cân đối nhất định trong phát triển không gian, từng bước thu hẹp khoảng cách vềxã hội và tiến tới giảm bớt sự chênh lệch về kinh tế trong những năm sau này. Các vùng phát triển kinh tế trọng điểm sẽ đóng vai trò là đầu tàu, là động cơ lôi kéo các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn hơn. Chiến lược ưu tiên phát triển vùng đặc biệt nhấn mạnh đến quá trình quy hoạch, kế hoạch hoá và chỉ đạo thực hiện phát triển vững bềnvững bằng cách đổi mới hệ thống quản lý theo hướng:

     Tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức và trách nhiệm về phát triển bềnvững cho các cấpchính quyền địa phương. Chính quyển địa phương trực tiếp chỉ đạo phương án phát triển kinh tế – xã hội và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích của địa phương, hiểu rõ tác động về mặt môi trường của các dự án phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn và vì vậy là cấp thích hợp nhất để quy hoạch và kế hoạch hoá sự phát triển bền vững ởđịa phương mình.

     Các vùng, khu vực đều phát huy lợi thế để phát triển, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Nhà nước tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điểu kiện và đầu tư thích đáng hơn cho các vùng còn nhiều khó khăn. Thông nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tình/thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật và nguồn nhân lực. Nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của vùng và khu vực.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: phân tích chính sách công, chính sách văn hóa

Định hướng chiến lược về lĩnh vực kinh tế và xã hội

     Cùng với việc xác định các nguyên tắc, trong định hướng chiến lược phát triển bền vững (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), Chính phủ đã xác định các lĩnh vực hoạt động cần ưu tiên sau:

Định hướng chiến lược về lĩnh vực kinh tế và xã hội

Lĩnh vực kinh tế:

i) Duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao không ngừng tính hiệu quả, hàm lượng khoa học – công nghệ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường;

ii) Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo hướng sạch hơn và thân thiện vớimôi trường, dựa trên cơ sở sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo, giảm tối đa chất thải độc hại và khó phân huỷ, duy trì lối sông của cá nhân và xã hội hài hoà và gần gũi với thiên nhiên;

iii) Thực hiện quá trình “công nghiệp hoá sạch”, nghĩa là ngay từ ban đầu phải quy hoạch sự phát triển công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”;

iv) Phát triển nông nghiệp và nông thôn bềnvững. Trong khi phát triển sản xuất ngày càng nhiều hàng hoá theo yêu cầu của thị trường, phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên: đất, nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học;

v) Phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát triển bền vững.

Lĩnh vực xã hội:

i) Tập trung nỗ lực để xoá đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm; tạo lập cơ hội bình đẳng để mọi người được tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, chính trị, phát triển kinh tê và bảo vệ môi trường;

ii) Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân sốđối vớicác lĩnh vực tạo việc làm, y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái;

iii) Định hướngquá trình đô thị hoá và di dân nhằm phát triển bềnvững các đô thị; phân bố hợp lý dân cư và lực lượng lao động theo vùng bảo đảm sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường bềnvững ở các địa phương;

iv) Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước;

 v) Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống.

Kết quả thực thi chính sách vùng và địa phương

     Từ năm 1976 đến nay, tuỳ theo đặc điểm của từng thời kỳ, Việt Nam đã đưa ra các hệ thống vùng kinh tế khác nhau, chẳng hạn như hệ thống 7 vùng nông lâm nghiệp, sau đó là hệ thống 8 vùng giai đoạn 1976-1980; hệ thống 4 vùng lớn và 7 tiểu vùng thời kỳ 1981-1985; hệ thống 8 vùng và ba vùng kinh tế trọng điểm từ năm 1986; và giai đoạn hiện nay là hệ thống 6 vùng kinh tế lớn và 3 vùng kinh tế trọng điểm:

Kết quả thực thi chính sách vùng và địa phương

1). Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc) gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, BắcGiang, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hoà Bình;

2). Vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gồm các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vinh Phúc, Quảng Ninh.

3). Vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ (còn gọi là Duyên hải miền Trung) và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Tri, Thừa Thiên – Huế, Đà Nắng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận.

4). Vùng Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắc, Đắk Nông và Lâm Đồng.

5). Vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm các tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang.

6). Vùng Đồng bằng sông cửu Long gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.

Ba vùng kinh tế trong điểm gồm:

1). Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm 8 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Quảng Ninh (Quyết định phê duyệt năm 1998 không có Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, ba tỉnh này được bổ sung năm 2003).

2). Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 8 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang. (Quyết định phê duyệt năm 1998 không có Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang, các tỉnh này được bổ sung năm 2003).

3) Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: Thừa Thiên – Huế, Đà Nắng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (Quyết định phê duyệt năm 1998 không có Bình Định, tỉnh này được bổ sung năm 2003).

Ngoài ra Việt Nam cũng đã xác định các hệ thống vùng theo những chiều kích không gian khác như:

i) Theo chiều dọc đất nước, được gọi là các dải đồng bằng ven biển, kể cả vùng biển và hải đảo quốc gia, gồm 137 huyện/thị thuộc 28 tỉnh có biển trong cả nước; dải trung du và miền núi;

ii) Loại vùng khó khăn gồm 1715 xã, sau đó lên đến 2400 xã thuộc 47 tỉnh. Chúng ta cũng đã bắt đầu sử dụng các khái niệm khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế trong Luật đầu tư. Sau đây là một số loại hình đó: i) Hành lang kinh tế là “tuyến trục giao thông gắn với sự phân bố tập trung các hoạt động kinh tế dọc tuyến. Nhờ sự phát triển và phân bố như vậy đã tạo ra các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển toàn tuyến, làm cho các hoạt động kinh tế của tuyến trở thành động lực lôi kéo sự phát triển chung”;

    Khu kinh tế là “lãnh thổ xác định mà ở đó tập trung các hoạt động kinh tế nhằm khai thác các lợi thế so sánh, đem lại lợi ích kinh tế và hiệu quả kinh tế – xã hội cao cho bản thân lãnh thổ đó và cho cả nước. Đến nay Việt Nam đã và đang hình thành các khu kinh tế Dung Quất, Cam Ranh, Vân Phong, Phú Quốc”;

iii) Khu sinh dưỡng công nghiệp là “khái niệm mới được sử dụng trong thời gian gần đây, được hiểu là một lãnh thổ có ranh giới xác định, tập hợp các hoạt động nghiên cứu cải tiến công nghệ, kỹ thuật chủ yếu phục vụ sự phát triển và đổi mới của các cơ sở công nghiệp đang hoạt động. Khu này liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học – công nghệ với các cơ sở sản xuất công nghiệp”.

     Riêng về tác động của chính sách vùng và địa phương đôi với sự phát triển thì chưa thể đánh giá được, vì đây là một quá trình mới đang bắt đầu khởi động và triển khai.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: phân tích chính sách công, chính sách mới